LỊCH SỬ HÌNH THÀNH - Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 22/12
lop 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hồng Thư
Ngày gửi: 16h:18' 06-02-2025
Dung lượng: 293.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Phạm Thị Hồng Thư
Ngày gửi: 16h:18' 06-02-2025
Dung lượng: 293.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tổng Bí thư Tô Lâm: Quân đội
nhân dân Việt Nam - Niềm tự hào
dân tộc
19/12/2024 | 14:58
0:00/0:00
0:00
Nam miền Bắc
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024),
35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024), xin trân trọng giới thiệu bài
viết: “Quân đội nhân dân Việt Nam - Niềm tự hào dân tộc” của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi gặp mặt, động viên đại biểu thế hệ trẻ trong Quân đội, nhân dịp kỷ
niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024), 35 năm Ngày hội Quốc
phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024), chiều 18/12. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
1. Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến
đấu. Sau 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, dưới sự
lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đội quân
nhỏ bé, trang bị thô sơ đã trở thành quân đội hùng mạnh, cùng nhân dân làm
nên những chiến thắng huy hoàng, những chiến công oanh liệt, biểu tượng
của tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, niềm tự hào của
Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam và bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế
giới.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại
khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, châu Nguyên
Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34
chiến sỹ “quần nâu áo vải”- tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, do đồng
chí Võ Nguyên Giáp lãnh đạo, được thành lập.
Ngay sau khi ra đời, được sự ủng hộ, giúp đỡ, che chở của nhân dân, Đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt,
Nà Ngần, mở đầu trang sử truyền thống “bách chiến, bách thắng” của Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân cùng các đơn vị Cứu quốc quân, các đội du kích phát triển thành
Việt Nam giải phóng quân, cùng nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi
nghĩa, làm nên thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính
quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà
nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong
lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta trưởng thành
nhanh chóng về mọi mặt; với ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần “Quyết
tử để Tổ quốc quyết sinh”, đã cùng toàn dân trường kỳ kháng chiến, làm phá
sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”, âm mưu “bình định”, “phản công”
của địch, lập những chiến công hiển hách.
Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân (1953-1954) với đỉnh cao là Chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã buộc
Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương,
rút quân về nước, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, trở thành niềm tự hào, tấm
gương sáng cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới khi lần đầu tiên
một nước thuộc địa, một đội quân non trẻ đã đánh bại quân đội nhà nghề,
được trang bị vũ khí hiện đại của đế quốc thực dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trước một đế quốc sừng sỏ, có
tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh bậc nhất thế giới, một đội quân viễn chinh
chuyên nghiệp với binh hùng tướng mạnh. Nhưng, dưới sự lãnh đạo tài tình,
sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã phát huy bản
chất cách mạng, truyền thống anh hùng, với tinh thần dũng cảm, mưu trí,
sáng tạo, ý chí quyết chiến, quyết thắng, thực hiện lời Bác “Đánh cho Mỹ cút,
đánh cho Ngụy nhào”, đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, “dám
đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”, cùng toàn dân đập tan chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”…
đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân
của đế quốc Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” (12-1972); tiến
hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch
Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn
thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, viết nên
trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh; non sông thu về một
mối, đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên hòa bình, độc lập, tự do,
cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Màn diễu binh của Khối Chiến sĩ Điện Biên tại Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Chiến thắng
lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024). Ảnh tư liệu: Lâm Khánh/TTXVN
Không chỉ giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, Quân đội nhân dân
Việt Nam đã tích cực thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Lào
bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giúp nhân dân Campuchia thoát
khỏi nạn diệt chủng, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc, chiến thắng trong
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, bản chất tốt đẹp và truyền thống “Bộ đội Cụ
Hồ” được tôi luyện qua hai cuộc kháng chiến và chiến tranh vệ quốc tiếp tục
tỏa sáng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân Việt Nam gương mẫu trong thực hiện các nghị quyết, chỉ
thị, kết luận của Đảng; không ngừng nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, thống nhất,
chung sức đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cùng toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi
tình huống; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống của
Nhân dân, không ngừng đóng góp duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên
thế giới.
Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn có mặt ở những nơi xung yếu, khó
khăn, nguy hiểm, xả thân để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và làm
công tác dân vận đã tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”,
thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng “thế
trận lòng dân” vững chắc, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà
nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; hình ảnh những “anh bộ đội” Việt Nam
trong đội quân gìn giữ hòa bình quốc tế ở nhiều miền đất còn khói lửa chiến
tranh trên thế giới đã cho thấy tầm và lực mới của Quân đội nhân dân Việt
Nam.
Đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ
và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực hiện nghĩa vụ quốc tế trong suốt
80 năm qua là do: (i) Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng, mang bản chất của giai
cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,
của nhân dân và của dân tộc Việt Nam.
(ii) Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân và vì dân; dựa
vào sức mạnh của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn khát
vọng cháy bỏng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; ngoài lợi ích
của Tổ quốc và lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.
(iii) Mục đích xây dựng quân đội là tự vệ dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc,
tự do cho Nhân dân, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,
duy trì hòa bình, ổn định, đóng góp vào hòa bình, ổn định ở khu vực và trên
thế giới. Quân đội ta chiến đấu không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu
thực hiện thắng lợi lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, vì độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội.
(iv) Lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sỹ với tinh thần, ý chí thép, dũng cảm,
mưu trí, không quản gian khó, hy sinh, luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân
tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân và chủ nghĩa xã hội.
(v) Đoàn kết, sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế đã góp phần tạo nên sức mạnh
của Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại; đây cũng là thời điểm
để định hình tương lai của chúng ta. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước
lớn ngày càng gay gắt, gia tăng thách thức đối với hòa bình, ổn định và phát
triển của các quốc gia. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ,
thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức
nổi trội hơn.
Nhưng, thời cơ mới có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi
đột biến trong cục diện thế giới, nhiệm vụ của chúng ta là phải chớp được
thời cơ đó để đưa đất nước tiến lên. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và
đang làm thay đổi phương thức hoạt động, tổ chức cách thức tiến hành chiến
tranh, can dự, can thiệp của các nước và nhiều khía cạnh khác của hoạt động
quân sự, an ninh, tình báo.
Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết thực hiện chiến lược
“diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, nguy hiểm. Bối cảnh
tình hình trên đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao đối với nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc. Để đạt được các yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, lực
lượng Quân đội nhân dân cần phát huy cao độ bản chất tốt đẹp và truyền
thống “Bộ đội cụ Hồ”, tập trung một số công tác, sau đây:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng;
không ngừng củng cố bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân
tộc của Quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc bất biến, yêu cầu
khách quan, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,
của nhiệm vụ quốc phòng; bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững
và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản
đối với Quân đội.
Giữ vững bản chất cách mạng; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh trong xây dựng và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân
đội; củng cố sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân
và tính dân tộc của Quân đội là điều kiện bảo đảm cho Quân đội ta mãi mãi là
lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu thật trong sạch, tuyệt đối trung thành,
tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Quân đội phải “hiếu với dân”, có trách nhiệm “phụng sự Nhân dân”, “phục vụ
Tổ quốc”, tôn trọng Nhân dân, gắn bó máu thịt với Nhân dân, đồng cam, cộng
khổ với mọi khó khăn, gian khổ của Nhân dân, sẵn sàng hy sinh để cứu dân,
phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đi dân nhớ, ở dân thương. Đoàn kết
thống nhất, phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân xây dựng, phát huy “thế
trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân
gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
Thứ hai, Quân đội nhân dân Việt Nam phải gương mẫu, đi đầu trong thực
hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, trước hết là Nghị quyết số 44NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới. Nắm chắc, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham
mưu, xử lý hiệu quả các tình huống về quốc phòng, tuyệt đối không để bị
động bất ngờ trong mọi tình huống.
Giữ vững độc lập, tự chủ; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ
sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; bảo vệ vững chắc Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc.
Tích cực tuyên truyền, vận động, nêu gương để nhân dân thực hiện tốt
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực
hiện các phong trào thi đua yêu nước, các nhiệm vụ cách mạng; củng cố
vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, huy động sức mạnh to lớn của Nhân
dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu thế hệ trẻ trong Quân đội. Ảnh: Trọng Đức/TTXVN
Thứ ba, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân thật sự trong sạch, vững
mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên phát triển và thịnh vượng. Triển khai quyết liệt các
giải pháp để “đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo
tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức
và cán bộ” theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Xây dựng Quân đội hiện đại theo tinh thần “người trước, súng sau” và chủ
động chuẩn bị về mọi mặt cho chiến tranh hiện đại; tiến mạnh làm chủ không
gian vũ trụ, tiến sâu nghiên cứu làm chủ mặt nước, đại dương, đáy biển;
nghiên cứu phát triển phòng không không quân, làm chủ vùng trời, xử lý tốt
thiết bị bay không người lái trên không, trên biển, robot đáy biển.
Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, các tổ chức đảng trong Quân đội
trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội tuyệt đối “trung với nước, hiếu với dân”,
suốt đời phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng
sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của
nhân dân lên trên hết, trước hết; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì sự nghiệp
chung, tích cực gương mẫu thực hiện các chủ trương của Đảng.
Thứ tư, tăng cường đóng góp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thực
hiện các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm
thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam) và duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Thực hiện các mục tiêu chiến lược của Đảng bên cạnh thời cơ, thuận lợi có
nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong
đó Quân đội nhân dân phải là một trong những lực lượng nòng cốt tham mưu
với Đảng, Nhà nước nắm bắt thời cơ, đẩy lùi thách thức; Quân đội nhân dân
phải thực sự là “đội quân chiến đấu”, “đội quân công tác”, “đội quân lao động
sản xuất”, trong đó phát huy hơn nữa vai trò “đội quân lao động sản xuất” để
phát triển công nghiệp quốc phòng trong tổng thể đường lối xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ.
Tăng cường đóng góp của Việt Nam trong duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực
và trên thế giới qua các hoạt động của Quân đội, trước hết là hợp tác quốc
phòng để củng cố tin cậy, giảm thiểu bất đồng, xung đột; tích cực tham gia
cứu hộ, cứu nạn quốc tế, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Với những chiến công chói lọi, với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong suốt 80 năm qua, với
bản chất Cách mạng và truyền thống “Bộ đội cụ Hồ”, Quân đội ta xứng đáng
là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, là niềm tự hào của Đảng,
Nhà nước, Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tự do và
công lý trên toàn thế giới.
nhân dân Việt Nam - Niềm tự hào
dân tộc
19/12/2024 | 14:58
0:00/0:00
0:00
Nam miền Bắc
Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024),
35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024), xin trân trọng giới thiệu bài
viết: “Quân đội nhân dân Việt Nam - Niềm tự hào dân tộc” của Tổng Bí thư Tô Lâm.
Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi gặp mặt, động viên đại biểu thế hệ trẻ trong Quân đội, nhân dịp kỷ
niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2024), 35 năm Ngày hội Quốc
phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2024), chiều 18/12. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN
1. Quân đội nhân dân Việt Nam từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến
đấu. Sau 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành, dưới sự
lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đội quân
nhỏ bé, trang bị thô sơ đã trở thành quân đội hùng mạnh, cùng nhân dân làm
nên những chiến thắng huy hoàng, những chiến công oanh liệt, biểu tượng
của tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, niềm tự hào của
Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam và bạn bè yêu chuộng hòa bình trên thế
giới.
Ngày 22 tháng 12 năm 1944, thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại
khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, châu Nguyên
Bình, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34
chiến sỹ “quần nâu áo vải”- tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, do đồng
chí Võ Nguyên Giáp lãnh đạo, được thành lập.
Ngay sau khi ra đời, được sự ủng hộ, giúp đỡ, che chở của nhân dân, Đội
Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã làm nên chiến thắng Phai Khắt,
Nà Ngần, mở đầu trang sử truyền thống “bách chiến, bách thắng” của Quân
đội nhân dân Việt Nam.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Bác Hồ, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải
phóng quân cùng các đơn vị Cứu quốc quân, các đội du kích phát triển thành
Việt Nam giải phóng quân, cùng nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi
nghĩa, làm nên thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính
quyền về tay nhân dân, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà
nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra kỷ nguyên mới trong
lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân đội ta trưởng thành
nhanh chóng về mọi mặt; với ý chí quyết chiến, quyết thắng, tinh thần “Quyết
tử để Tổ quốc quyết sinh”, đã cùng toàn dân trường kỳ kháng chiến, làm phá
sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”, âm mưu “bình định”, “phản công”
của địch, lập những chiến công hiển hách.
Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân (1953-1954) với đỉnh cao là Chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” đã buộc
Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, lập lại hòa bình ở Đông Dương,
rút quân về nước, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, trở thành niềm tự hào, tấm
gương sáng cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới khi lần đầu tiên
một nước thuộc địa, một đội quân non trẻ đã đánh bại quân đội nhà nghề,
được trang bị vũ khí hiện đại của đế quốc thực dân.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trước một đế quốc sừng sỏ, có
tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh bậc nhất thế giới, một đội quân viễn chinh
chuyên nghiệp với binh hùng tướng mạnh. Nhưng, dưới sự lãnh đạo tài tình,
sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta đã phát huy bản
chất cách mạng, truyền thống anh hùng, với tinh thần dũng cảm, mưu trí,
sáng tạo, ý chí quyết chiến, quyết thắng, thực hiện lời Bác “Đánh cho Mỹ cút,
đánh cho Ngụy nhào”, đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, “dám
đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng”, cùng toàn dân đập tan chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”…
đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, hải quân
của đế quốc Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” (12-1972); tiến
hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch
Hồ Chí Minh, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn
thành vẻ vang sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, viết nên
trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh; non sông thu về một
mối, đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên hòa bình, độc lập, tự do,
cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Màn diễu binh của Khối Chiến sĩ Điện Biên tại Lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm Chiến thắng
lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024). Ảnh tư liệu: Lâm Khánh/TTXVN
Không chỉ giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, Quân đội nhân dân
Việt Nam đã tích cực thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Lào
bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, giúp nhân dân Campuchia thoát
khỏi nạn diệt chủng, thực hiện công cuộc hồi sinh dân tộc, chiến thắng trong
chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc.
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, bản chất tốt đẹp và truyền thống “Bộ đội Cụ
Hồ” được tôi luyện qua hai cuộc kháng chiến và chiến tranh vệ quốc tiếp tục
tỏa sáng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
Quân đội nhân dân Việt Nam gương mẫu trong thực hiện các nghị quyết, chỉ
thị, kết luận của Đảng; không ngừng nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, thống nhất,
chung sức đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, cùng toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong mọi
tình huống; tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống của
Nhân dân, không ngừng đóng góp duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên
thế giới.
Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn có mặt ở những nơi xung yếu, khó
khăn, nguy hiểm, xả thân để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân và làm
công tác dân vận đã tô thắm thêm phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”,
thắt chặt mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng “thế
trận lòng dân” vững chắc, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà
nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; hình ảnh những “anh bộ đội” Việt Nam
trong đội quân gìn giữ hòa bình quốc tế ở nhiều miền đất còn khói lửa chiến
tranh trên thế giới đã cho thấy tầm và lực mới của Quân đội nhân dân Việt
Nam.
Đạt được những thành tựu to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ
và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, thực hiện nghĩa vụ quốc tế trong suốt
80 năm qua là do: (i) Quân đội nhân dân Việt Nam luôn đặt dưới sự lãnh đạo
tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng, mang bản chất của giai
cấp công nhân Việt Nam, gánh vác sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân,
của nhân dân và của dân tộc Việt Nam.
(ii) Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân và vì dân; dựa
vào sức mạnh của nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, luôn khát
vọng cháy bỏng về cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; ngoài lợi ích
của Tổ quốc và lợi ích của nhân dân, quân đội ta không có lợi ích nào khác.
(iii) Mục đích xây dựng quân đội là tự vệ dân tộc, giành độc lập cho Tổ quốc,
tự do cho Nhân dân, bảo vệ độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,
duy trì hòa bình, ổn định, đóng góp vào hòa bình, ổn định ở khu vực và trên
thế giới. Quân đội ta chiến đấu không có mục tiêu nào khác ngoài mục tiêu
thực hiện thắng lợi lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, vì độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội.
(iv) Lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sỹ với tinh thần, ý chí thép, dũng cảm,
mưu trí, không quản gian khó, hy sinh, luôn giương cao ngọn cờ độc lập dân
tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân và chủ nghĩa xã hội.
(v) Đoàn kết, sự hỗ trợ của bạn bè quốc tế đã góp phần tạo nên sức mạnh
của Quân đội nhân dân Việt Nam.
2. Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại; đây cũng là thời điểm
để định hình tương lai của chúng ta. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước
lớn ngày càng gay gắt, gia tăng thách thức đối với hòa bình, ổn định và phát
triển của các quốc gia. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ,
thuận lợi mới, đồng thời cũng có nhiều thách thức, trong đó mặt thách thức
nổi trội hơn.
Nhưng, thời cơ mới có thể xuất hiện trong khoảnh khắc giữa những thay đổi
đột biến trong cục diện thế giới, nhiệm vụ của chúng ta là phải chớp được
thời cơ đó để đưa đất nước tiến lên. Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và
đang làm thay đổi phương thức hoạt động, tổ chức cách thức tiến hành chiến
tranh, can dự, can thiệp của các nước và nhiều khía cạnh khác của hoạt động
quân sự, an ninh, tình báo.
Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết thực hiện chiến lược
“diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, nguy hiểm. Bối cảnh
tình hình trên đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ ngày càng cao đối với nhiệm vụ bảo
vệ Tổ quốc. Để đạt được các yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới, lực
lượng Quân đội nhân dân cần phát huy cao độ bản chất tốt đẹp và truyền
thống “Bộ đội cụ Hồ”, tập trung một số công tác, sau đây:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng;
không ngừng củng cố bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân
tộc của Quân đội. Sự lãnh đạo của Đảng là nguyên tắc bất biến, yêu cầu
khách quan, nhân tố quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc,
của nhiệm vụ quốc phòng; bất luận trong hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững
và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản
đối với Quân đội.
Giữ vững bản chất cách mạng; kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ
Chí Minh trong xây dựng và tổ chức thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân
đội; củng cố sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân
và tính dân tộc của Quân đội là điều kiện bảo đảm cho Quân đội ta mãi mãi là
lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu thật trong sạch, tuyệt đối trung thành,
tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Quân đội phải “hiếu với dân”, có trách nhiệm “phụng sự Nhân dân”, “phục vụ
Tổ quốc”, tôn trọng Nhân dân, gắn bó máu thịt với Nhân dân, đồng cam, cộng
khổ với mọi khó khăn, gian khổ của Nhân dân, sẵn sàng hy sinh để cứu dân,
phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu, đi dân nhớ, ở dân thương. Đoàn kết
thống nhất, phối hợp chặt chẽ với Công an nhân dân xây dựng, phát huy “thế
trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân
gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc.
Thứ hai, Quân đội nhân dân Việt Nam phải gương mẫu, đi đầu trong thực
hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng, trước hết là Nghị quyết số 44NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới. Nắm chắc, dự báo đúng tình hình, kịp thời tham
mưu, xử lý hiệu quả các tình huống về quốc phòng, tuyệt đối không để bị
động bất ngờ trong mọi tình huống.
Giữ vững độc lập, tự chủ; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ
sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế; bảo vệ vững chắc Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc.
Tích cực tuyên truyền, vận động, nêu gương để nhân dân thực hiện tốt
đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực
hiện các phong trào thi đua yêu nước, các nhiệm vụ cách mạng; củng cố
vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, huy động sức mạnh to lớn của Nhân
dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu thế hệ trẻ trong Quân đội. Ảnh: Trọng Đức/TTXVN
Thứ ba, tập trung xây dựng Quân đội nhân dân thật sự trong sạch, vững
mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ
nguyên mới, kỷ nguyên phát triển và thịnh vượng. Triển khai quyết liệt các
giải pháp để “đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo
tiền đề vững chắc phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính
quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức
và cán bộ” theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Xây dựng Quân đội hiện đại theo tinh thần “người trước, súng sau” và chủ
động chuẩn bị về mọi mặt cho chiến tranh hiện đại; tiến mạnh làm chủ không
gian vũ trụ, tiến sâu nghiên cứu làm chủ mặt nước, đại dương, đáy biển;
nghiên cứu phát triển phòng không không quân, làm chủ vùng trời, xử lý tốt
thiết bị bay không người lái trên không, trên biển, robot đáy biển.
Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, các tổ chức đảng trong Quân đội
trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.
Xây dựng đội ngũ cán bộ Quân đội tuyệt đối “trung với nước, hiếu với dân”,
suốt đời phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng
sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích của
nhân dân lên trên hết, trước hết; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo vì sự nghiệp
chung, tích cực gương mẫu thực hiện các chủ trương của Đảng.
Thứ tư, tăng cường đóng góp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thực
hiện các mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, 100 năm
thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam) và duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
Thực hiện các mục tiêu chiến lược của Đảng bên cạnh thời cơ, thuận lợi có
nhiều khó khăn, thách thức, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong
đó Quân đội nhân dân phải là một trong những lực lượng nòng cốt tham mưu
với Đảng, Nhà nước nắm bắt thời cơ, đẩy lùi thách thức; Quân đội nhân dân
phải thực sự là “đội quân chiến đấu”, “đội quân công tác”, “đội quân lao động
sản xuất”, trong đó phát huy hơn nữa vai trò “đội quân lao động sản xuất” để
phát triển công nghiệp quốc phòng trong tổng thể đường lối xây dựng nền
kinh tế độc lập, tự chủ.
Tăng cường đóng góp của Việt Nam trong duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực
và trên thế giới qua các hoạt động của Quân đội, trước hết là hợp tác quốc
phòng để củng cố tin cậy, giảm thiểu bất đồng, xung đột; tích cực tham gia
cứu hộ, cứu nạn quốc tế, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.
Với những chiến công chói lọi, với những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải
phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong suốt 80 năm qua, với
bản chất Cách mạng và truyền thống “Bộ đội cụ Hồ”, Quân đội ta xứng đáng
là Quân đội anh hùng của dân tộc Việt Nam anh hùng, là niềm tự hào của Đảng,
Nhà nước, Nhân dân Việt Nam và nhân dân yêu chuộng hòa bình, tự do và
công lý trên toàn thế giới.
 





